Tự học Reading

[DAILY READING #27]: WHEEL OF FORTUNE

daily reading

Bạn có bao giờ cảm thấy ngợp khi đứng trước một văn bản tiếng Anh dài ngoằng? Bí quyết thực sự của những người đọc tốt, hay những học viên chinh phục thành công các mốc 7.0 – 8.0+, không nằm ở việc biết mọi từ vựng trên đời, mà ở chiến thuật xử lý thông tin thông minh.

Hôm nay, hãy cùng thầy đổi gió với [Daily reading #27]: Wheel of Fortune! Chủ đề lần này không chỉ mang đến cho bạn những góc nhìn mới mẻ và kiến thức đời sống thú vị xoay quanh “Vòng quay may mắn”, mà quan trọng hơn, đây là cơ hội hoàn hảo để bạn mài giũa 2 kỹ năng cần thiết trong kỹ năng “Scanning” và “Skimming.

engonow.com

  • daily reading
  • daily reading
  • daily reading
  • ielts bình tân
  • ielts bình tân
  • ielts bình tân

Bài đọc:

English:

Since moving pictures were invented a century ago, a new way of distributing entertainment to consumers has emerged about once every generation. Each such innovation has changed the industry irreversibly; each has been accompanied by a period of fear mixed with exhilaration. The arrival of digital technology, which translates music, pictures and text into the zeros and ones of computer language, marks one of those periods.

This may sound familiar, because the digital revolution, and the explosion of choice that would go with it, has been heralded for some time. In 1992, John Malone, chief executive of TCI, an American cable giant, welcomed the ‘500-channel universe’. Digital television was about to deliver everything except pizzas to people’s living rooms. When the entertainment companies tried out the technology, it worked fine – but not at a price that people were prepared to pay.

Those 500 channels eventually arrived but via the Internet and the PC rather than through television. The digital revolution was starting to affect the entertainment business in unexpected ways. Eventually it will change every aspect of it, from the way cartoons are made to the way films are screened to the way people buy music. That much is clear. What nobody is sure of is how it will affect the economics of the business.

New technologies always contain within them both threats and opportunities. They have the potential both to make the companies in the business a great deal richer, and to sweep them away. Old companies always fear new technology. Hollywood was hostile to television, television terrified by the VCR. Go back far enough, points out Hal Varian, an economist at the University of California at Berkeley, and you find publishers complaining that ‘circulating libraries’ would cannibalise their sales. Yet whenever a new technology has come in, it has made more money for existing entertainment companies. The proliferation of the means of distribution results, gratifyingly, in the proliferation of dollars, pounds, pesetas and the rest to pay for it.

All the same, there is something in the old companies’ fears. New technologies may not threaten their lives, but they usually change their role. Once television became widespread, film and radio stopped being the staple form of entertainment. Cable television has undermined the power of the broadcasters. And as power has shifted the movie studios, the radio companies and the television broadcasters have been swallowed up. These days, the grand old names of entertainment have more resonance than power. Paramount is part of Viacom, a cable company; Universal, part of Seagram, a drinks-and-entertainment company; MGM, once the roaring lion of Hollywood, has been reduced to a whisper because it is not part of one of the giants. And RCA, once the most important broadcasting company in the world, is now a recording label belonging to Bertelsmann, a large German entertainment company.

Part of the reason why incumbents got pushed aside was that they did not see what was coming. But they also faced a tighter regulatory environment than the present one. In America, laws preventing television broadcasters from owning programme companies were repealed earlier this decade, allowing the creation of vertically integrated businesses. Greater freedom, combined with a sense of history, prompted the smarter companies in the entertainment business to re-invent themselves. They saw what happened to those of their predecessors who were stuck with one form of distribution.

So, these days, the powers in the entertainment business are no longer movie studios, or television broadcasters, or publishers; all those businesses have become part of bigger businesses still, companies that can both create content and distribute it in a range of different ways.

Out of all this, seven huge entertainment companies have emerged – Time Warner, Walt Disney, Bertelsmann, Viacom, News Corp, Seagram and Sony. They cover pretty well every bit of the entertainment business except pornography. Three are American, one is Australian, one Canadian, one German and one Japanese. ‘What you are seeing’, says Christopher Dixon, managing director of media research at PaineWebber, a stockbroker, ‘is the creation of a global oligopoly. It happened to the oil and automotive businesses earlier this century; now it is happening to the entertainment business.’ It remains to be seen whether the latest technology will weaken those great companies, or make them stronger than ever.

Vietnamese:

Kể từ khi những thước phim chuyển động được phát minh cách đây một thế kỷ, một phương thức phân phối nội dung giải trí mới đến tay người tiêu dùng lại xuất hiện với tần suất khoảng một thế hệ một lần. Mỗi sự đổi mới như vậy đều làm thay đổi ngành công nghiệp này một cách không thể đảo ngược; mỗi lần đổi mới đều đi kèm với một giai đoạn đan xen giữa nỗi sợ hãi và sự phấn khích. Sự xuất hiện của công nghệ kỹ thuật số, thứ giúp chuyển đổi âm nhạc, hình ảnh và văn bản thành các chuỗi số 0 và 1 của ngôn ngữ máy tính, đã đánh dấu một trong những giai đoạn đó.

Điều này nghe có vẻ quen thuộc, bởi cuộc cách mạng kỹ thuật số, cùng với sự bùng nổ của các lựa chọn đi kèm, đã được báo trước từ lâu. Năm 1992, John Malone, giám đốc điều hành của TCI, một gã khổng lồ truyền hình cáp của Mỹ, đã hân hoan chào đón “vũ trụ 500 kênh”. Truyền hình kỹ thuật số khi đó đã sẵn sàng mang mọi thứ, ngoại trừ bánh pizza, đến tận phòng khách của mọi người. Khi các công ty giải trí thử nghiệm công nghệ này, nó hoạt động rất tốt – nhưng mức giá lại không nằm trong khả năng chi trả của người tiêu dùng.

500 kênh truyền hình đó cuối cùng cũng xuất hiện nhưng là thông qua Internet và máy tính cá nhân (PC) chứ không phải qua tivi. Cuộc cách mạng kỹ thuật số đã bắt đầu ảnh hưởng đến ngành kinh doanh giải trí theo những cách không ngờ tới. Cuối cùng, nó sẽ thay đổi mọi khía cạnh của ngành này, từ cách sản xuất phim hoạt hình, cách công chiếu phim ảnh cho đến cách mọi người mua sắm âm nhạc. Điều đó là quá rõ ràng. Thứ mà không ai dám chắc chắn là nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến bài toán kinh tế của ngành.

Các công nghệ mới luôn tiềm ẩn trong đó cả những mối đe dọa và cơ hội. Chúng có tiềm năng vừa giúp các công ty trong ngành trở nên giàu có hơn rất nhiều, vừa có thể quét sạch họ hoàn toàn. Các công ty lâu đời luôn e sợ công nghệ mới. Hollywood từng thù địch với truyền hình, còn truyền hình thì lại kinh hãi trước đầu máy video (VCR). Nhìn lại quá khứ xa hơn một chút, Hal Varian, một nhà kinh tế học tại Đại học California ở Berkeley, chỉ ra rằng bạn sẽ thấy các nhà xuất bản từng phàn nàn rằng “thư viện lưu động” sẽ triệt tiêu doanh thu của họ. Thế nhưng bất cứ khi nào một công nghệ mới xuất hiện, nó lại mang về nhiều tiền hơn cho các công ty giải trí hiện hành. Sự phát triển mạnh mẽ của các phương tiện phân phối, thật đáng mừng, đã mang lại sự sinh sôi nảy nở tương ứng của đồng đô la, bảng Anh, đồng peseta và các loại tiền tệ khác để chi trả cho chúng.

Dù vậy, nỗi sợ hãi của các công ty cũ không phải là không có cơ sở. Các công nghệ mới có thể không đe dọa đến sự sống còn của họ, nhưng chúng thường làm thay đổi vai trò của họ. Một khi tivi trở nên phổ biến, phim ảnh và radio không còn là hình thức giải trí chủ đạo nữa. Truyền hình cáp đã làm suy yếu sức mạnh của các đài phát thanh truyền hình. Và khi quyền lực chuyển dịch, các hãng phim, đài phát thanh và đài truyền hình đã bị thâu tóm. Ngày nay, những tên tuổi lớn lâu đời trong ngành giải trí vang bóng một thời nay chỉ còn lại hư danh hơn là thực quyền. Paramount nay là một phần của Viacom, một công ty truyền hình cáp; Universal thuộc về Seagram, một công ty đồ uống và giải trí; MGM, từng là chú sư tử gầm thét của Hollywood, nay đã thu bé lại thành một tiếng thì thầm nhỏ bé bởi nó không trực thuộc một gã khổng lồ nào. Và RCA, từng là công ty phát thanh truyền hình quan trọng nhất thế giới, nay chỉ còn là một hãng thu âm thuộc quyền sở hữu của Bertelsmann, một tập đoàn giải trí lớn của Đức.

Một phần lý do khiến các công ty thống trị một thời bị đẩy lùi về phía sau là do họ không nhìn thấy trước được những gì sắp diễn ra. Nhưng họ cũng phải đối mặt với một môi trường thể chế khắt khe hơn hiện tại. Ở Mỹ, các đạo luật ngăn cấm đài truyền hình sở hữu công ty sản xuất chương trình đã bị bãi bỏ vào đầu thập kỷ này, cho phép hình thành các doanh nghiệp tích hợp theo chiều dọc. Sự tự do lớn hơn, kết hợp với nhận thức về lịch sử, đã thúc đẩy các công ty khôn ngoan hơn trong ngành giải trí tự tái tạo lại chính mình. Họ đã chứng kiến những gì xảy ra với các bậc tiền bối khi chỉ bám víu vào một hình thức phân phối duy nhất.

Vì vậy, ngày nay, các thế lực trong ngành giải trí không còn là các hãng phim, đài truyền hình hay các nhà xuất bản đơn lẻ; tất cả các doanh nghiệp đó giờ đã trở thành một phần của những tập đoàn thậm chí còn lớn hơn, những công ty vừa có thể tạo ra nội dung vừa có thể phân phối nó bằng vô số hình thức khác nhau.

Từ bối cảnh đó, bảy tập đoàn giải trí khổng lồ đã nổi lên – Time Warner, Walt Disney, Bertelsmann, Viacom, News Corp, Seagram và Sony. Họ gần như bao trọn mọi lĩnh vực trong ngành kinh doanh giải trí, ngoại trừ văn hóa phẩm đồi trụy. Trong đó có ba công ty của Mỹ, một của Úc, một của Canada, một của Đức và một của Nhật Bản. “Những gì bạn đang thấy,” Christopher Dixon, giám đốc quản lý nghiên cứu truyền thông tại công ty môi giới chứng khoán PaineWebber, nhận định, “là sự hình thành của một đế chế độc quyền nhóm toàn cầu. Điều này đã từng xảy ra với ngành dầu mỏ và ô tô vào đầu thế kỷ này; giờ đây, nó đang lặp lại với ngành công nghiệp giải trí.” Vẫn còn phải chờ xem liệu công nghệ mới nhất sẽ làm suy yếu những tập đoàn vĩ đại này, hay sẽ khiến họ trở nên vững mạnh hơn bao giờ hết.

Từ vựng nổi bật:

  1. Innovation /ˌɪn.əˈveɪ.ʃən/ (n): Sự đổi mới, sự cách tân — “Each such innovation has changed…”
  2. Irreversibly /ˌɪr.ɪˈvɜː.sə.bli/ (adv): Một cách không thể đảo ngược — “…changed the industry irreversibly;”
  3. Exhilaration /ɪɡˌzɪl.əˈreɪ.ʃən/ (n): Sự hồ hởi, niềm phấn khích — “…fear mixed with exhilaration.”
  4. Herald /ˈher.əld/ (v): Báo trước, tung hô, báo hiệu — “…has been heralded for some time.”
  5. Explosion /ɪkˈspləʊ.ʒən/ (n): Sự bùng nổ (số lượng/sự lựa chọn) — “…the explosion of choice…”
  6. Economics /ˌiː.kəˈnɒm.ɪks/ (n): Bài toán kinh tế, nền tảng kinh tế — “…the economics of the business.”
  7. Hostile /ˈhɒs.taɪl/ (adj): Thù địch, chống đối — “Hollywood was hostile to television…”
  8. Cannibalise /ˈkæn.ɪ.bəl.aɪz/ (v): Tranh giành/triệt tiêu doanh thu của chính mình — “…would cannibalise their sales.”
  9. Proliferation /prəˌlɪf.ərˈeɪ.ʃən/ (n): Sự phát triển, sinh sôi nảy nở nhanh chóng — “The proliferation of the means…”
  10. Gratifyingly /ˈɡræt.ɪ.faɪ.ɪŋ.li/ (adv): Một cách đáng hài lòng — “…results, gratifyingly, in the…”
  11. Widespread /ˌwaɪdˈspred/ (adj): Lan rộng, phổ biến — “Once television became widespread…”
  12. Staple /ˈsteɪ.pəl/ (adj/n): Chính, chủ yếu, cơ bản — “…the staple form of entertainment.”
  13. Undermine /ˌʌn.dəˈmaɪn/ (v): Làm suy yếu dần, phá ngầm — “…has undermined the power…”
  14. Swallow /ˈswɒl.əʊ/ (v): Nuốt chửng, thâu tóm — “…have been swallowed up.”
  15. Resonance /ˈrez.ən.əns/ (n): Tiếng vang, sự âm vang — “…have more resonance than power.”
  16. Incumbent /ɪnˈkʌm.bənt/ (n): Công ty đang nắm giữ vị trí thống trị — “…why incumbents got pushed aside…”
  17. Regulatory /ˌreɡ.jəˈleɪ.tər.i/ (adj): Thuộc về quy định, thể chế (pháp luật) — “…tighter regulatory environment…”
  18. Repeal /rɪˈpiːl/ (v): Bãi bỏ, hủy bỏ (đạo luật) — “…were repealed earlier this decade…”
  19. Vertically /ˈvɜː.tɪ.kəl.i/ (adv): Theo chiều dọc (từ trên xuống dưới) — “…vertically integrated businesses.”
  20. Integrate /ˈɪn.tɪ.ɡreɪt/ (v): Tích hợp, hợp nhất — “…integrated businesses.”
  21. Prompt /prɒmpt/ (v): Thúc đẩy, thôi thúc, gợi ý — “…prompted the smarter companies…”
  22. Predecessor /ˈpriː.dɪˌses.ər/ (n): Người tiền nhiệm, công ty đi trước — “…happened to those of their predecessors…”
  23. Distribute /dɪˈstrɪb.juːt/ (v): Phân phối, phát hành — “…distribute it in a range of different ways.”
  24. Oligopoly /ˌɒl.ɪˈɡɒp.əl.i/ (n): Độc quyền nhóm (thị trường do vài thế lực kiểm soát) — “…the creation of a global oligopoly.”
  25. Weaken /ˈwiː.kən/ (v): Làm suy yếu — “…weaken those great companies…”

Nếu bạn đang tìm kiếm một địa chỉ học IELTS Bình Tân hoặc khu vực Quận 6 uy tín và chất lượng, đừng ngần ngại liên hệ ngay qua fanpage để trung tâm tư vấn lộ trình phù hợp nhất cho bạn nhé!

IELTS Master powered by Engonow
Enlighten Your Goal Now.
Quận 6 – Bình Tân, TP HCM / Online toàn cầu.
engonow.edu.vn

Xem thêm: Daily Reading #23: “Sculpture”

Author

Khang Tran

Leave a comment

Your email address will not be published. Required fields are marked *